M theo di trang web

Thuốc Kháng Viêm . Nguyên Nhân Gây Viêm

219 lượt xem

Viết bởi: admin

Ngày: 01/22/2019

Thuốc kháng viêm là gì?  

Thuốc kháng viêm là thuốc ức chế giới hạn hoặc làm chậm quá trình viêm bằng cách ức chế việc sản xuất các chất trung gian gây viêm như Prostaglandin E2, Leukotrien Viêm là một chuỗi các hiện tượng do nhiều tác nhân như nhiễm trùng các phản ứng miễn dịch  tổn thương do nhiệt hoặc vật lý…gây ra các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng : sưng,nóng, đỏ đau

Tác dụng của thuốc kháng viêm

Tác dụng chống viêm: ức chế sinh tổng hợp các chất trung gian gây viêm.

Tác dụng giảm đau: Chỉ có tác dụng với các chứng đau nhẹ, khu trú. Tác dụng tốt với các chứng đau do viêm (đau khớp, viêm cơ, viêm dây thần kinh, đau răng, đau sau mổ). Không có tác dụng với đau nội tạng, không gây ngủ, không gây khoan khoái và không gây nghiện.

Tác dụng hạ sốt

Tác dụng chống ngưng kết tiểu cầu

Phân loại thuốc kháng viêm

Phân loại theo tác dụng: 

Tác dụng nhanh (chống viêm, giảm đau)

Tác dụng chậm (chống viêm chậm: 4 tuần – 3 tháng, không giảm đau)

Phân loại theo cấu trúc gồm hai loại chính:

Thuốc kháng viêm không steroid

Thuốc kháng viêm steroid

1.Thuốc kháng viêm steroid

NSAIDs là nhóm thuốc kháng viêm không chứa steroid, thường được sử dụng để điều trị các triệu chứng, bệnh lý liên quan đến cơ xương khớp. Nhìn chung, nhóm thuốc NSAIDs có công dụng sau đây:

Giảm đau: Những cơn đau do căng cơ, bong gân, đau đầu, đau nửa đầu, đau bụng kinh, đau răng…

Hạ Sốt: NSAIDs có tác dụng hạ nhiệt cho cơ thể

Kháng Viêm: NSAIDs giúp làm giảm hiện tượng viêm cho bệnh nhân.

Một số hoạt chất trong nhóm thuốc NSAIDs được sử dụng phổ biến nhất có thể kể đến như aspirin, ibuprofen hay meloxicam . Điều quan trọng là trước khi dùng, bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về các hoạt chất trong nhóm thuốc NSAIDs phù hợp với cơ địa và tình trạng của bạn.

Một số hoạt chất phổ biến

-Aspirin: Ngăn chặn enzyme COX I và COX II, nên ngoài tác dụng giảm đau, hạ sốt, kháng viêm, aspirin còn có thêm tác dụng ngăn cản kết tập tiểu cầu. Vì aspirin ngăn chặn cả COX I và COX II nên bệnh nhân có thể gặp một số tác dụng phụ như đau,  loét dạ dày, xuất huyết …. Vì vậy hiện nay, aspirin ít được sử dụng để giảm đau và thường được dùng để chống đông máu ở các bệnh nhân có nguy cơ tim mạch với liều thấp.

– Diclofenac: Có tác dụng giảm đau mạnh hơn aspirin, nhưng đồng thời tác dụng phụ đường tiêu hóa trên bệnh nhân cũng nặng hơn như loét dạ dày, xuất huyết dạ dày, thiếu máu, ….

– Ibuprofen: có tác dụng giảm đau mạnh hơn aspirin. Khi bệnh nhân sử dụng ibuprofen có thể bị kích ứng tiêu hóa, rối loạn tạo máu,……

– Một số hoạt chất khác như: naproxen, ketoprofen,…. cũng có các đặc tính giảm đau và tác dụng phụ tương tự như các hoạt chất trên.

Ngoài ra, các hoạt chất ngăn chặn chủ yếu COX II trong nhóm thuốc NSAIDs có thể giúp giảm đau, kháng viêm hiệu quả nhưng giảm tác dụng phụ trên đường tiêu hóa.

Meloxicam là hoạt chất trong nhóm thuốc NSAIDs có tác dụng ngăn chặn chọn lọc, chuyên biệt enzyme COX II. Các nghiên cứu đã chứng minh meloxicam giúp giảm đau khi di chuyển và giảm tình trạng cứng khớp trên bệnh nhân thoái hóa khớp, cải thiện các triệu chứng của viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp. Do chỉ ngăn chặn chọn lọc COX II, meloxicam ít gây tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, tim mạch so với diclofenac, piroxicam và celecoxib.

Các hoạt chất coxib như celecoxib, rofecoxib, valdecoxib, ….cũng có tác dụng ngăn chặn chuyên biệt COX II, nên cũng giảm các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa so với aspirin hay diclofenac. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của các hoạt chất này trên tim mạch, thận vẫn còn đang được nghiên cứu. Và một thông tin từ năm 2004 có đề cập đến 2 hoạt chất rofecoxib và valdecoxib đã rút khỏi thị trường do nhiều nghiên cứu cho thấy có liên quan đến tai biến về tim mạch và valdecoxib còn gây các phản ứng da nghiêm trọng.

Chỉ định của nhóm thuốc kháng viêm không chứa steroid (NSAIDs)

Các bệnh viêm khớp như thấp khớp cấp, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vảy nến, gút, viêm khớp tự phát thiếu niên…

Các bệnh hệ thống (lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì toàn thể…)

Thoái hóa khớp (hư khớp),thoái hóa cột sống, đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau thắt lưng cấp hoặc mạn tính, đau thần kinh toạ…

Bệnh lý phần mềm do thấp: Viêm quanh khớp vai, viêm lồi cầu xương cánh tay, hội chứng De Quervain, hội chứng đường hầm cổ tay…

Chống chỉ định của nhóm thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs)

Chống chỉ định tuyệt đối (không được sử dụng) đối với các bệnh nhân mắc các vấn đề sau:

Bệnh lý chảy máu không được kiểm soát

Tiền sử dị ứng, mẫn cảm với thuốc

Loét dạ dày tá tràng đang tiến triển

Suy tế bào gan mức độ vừa đến nặng

Phụ nữ có thai ba tháng đầu hoặc ba tháng cuối, phụ nữ đang cho con bú.

Thận trọng:

Bệnh nhân cần thận trọng nếu đang gặp phải các vấn đề sau:

Nhiễm trùng đang tiến triển.

Hen phế quản

Tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng

Bệnh tim mạch hoặc có yếu tố nguy cơ cao với bệnh tim mạch

  1. Thuốc kháng viêm steroid

Tác dụng của kháng viêm steroid

Giảm đau, chống viêm cho rất nhiều bệnh hoặc tổn thương dẫn đến viêm, sưng tấy hoặc các triệu chứng khác (khó thở). Đó là lý do những thuốc steroid có thể điều trị các bệnh như chàm Eczema, viêm khớp, phản ứng dị ứng và hen.

Chống nôn và buồn nôn: Thuốc steroid được sử dụng rộng rãi với các thuốc khác để chống nôn và buồn nôn do hóa trị.

Chống dị ứng: Thuốc steroid dùng để ngăn ngừa phản ứng tự miễn do nhiều bệnh gây kích hoạt hệ miễn dịch tấn công các tế bào bình thường, như lupus, viêm khớp dạng thấp, đa xơ cứng.

Chống thải ghép nội tạng: Thuốc steroid được sử dụng rộng rãi cùng các thuốc khác để ngăn ngừa hệ miễn dịch tấn công các nội tạng được cấy ghép như thận ghép.

Thay thế các nội tiết tố thiếu hụt: Khi cơ thể sản xuất quá ít nội tiết tố corticoid, sẽ dẫn tới rất nhiều bệnh. Đặc biệt nội tiết tố này sản xuất để kiểm soát đường huyết trong cơ thể nên nó có vai trò vô cùng quan trọng. Chính vì vậy thuốc steroid được dùng để thay thế corticoid thiếu hụt trong cơ thể và nó được dùng để điều trị các bệnh như bệnh Addison, bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh (CAH).

 

 

 

Thuốc steroid có vai trò vô cùng quan trọng trong điều trị nhiều loại bệnh khác nhau. Thậm chí chúng có thể cứu mạng bạn khi bạn bị bệnh nặng. Tuy nhiên chúng cũng có rất nhiều tác dụng phụ như tăng cân, gây ra các vấn đề về mắt, loãng xương.

Phân loại thuốc steroid

Thuốc steroid đường uống: Chúng có thể là dạng viên hoặc dạng lỏng và thường dùng vào buổi sáng do lượng corticoid tự nhiên trong cơ thể cao nhất vào buổi sáng. Uống thuốc steroid vào buổi sáng giúp cơ thể bạn duy trì hàm lượng nội tiết tố gần với tự nhiên hơn. Chúng cũng có thể làm bạn thức giấc lúc nửa đêm. Nếu bạn ngừng sử dụng thuốc uống steroid, hãy trao đổi với bác sỹ hoặc điều dưỡng, họ sẽ hướng dẫn cách giảm liều chậm dần theo thời gian. Vì ngừng uống thuốc steroid đột ngột có thể gây ra các triệu chứng khó chịu, thậm chí gây nguy hiểm.

Thuốc steroid dạng hít: Thuốc steroid đi qua một dụng cụ gọi là máy xông có thể giúp bạn hít thuốc vào. Dạng thuốc này thường dùng điều trị hen.

Thuốc steroid tác dụng cục bộ: Các thuốc này ở các dạng như thuốc mỡ, thuốc rửa, gel, kem… bôi vào da.

Thuốc steroid bơm hoặc nhỏ mắt, mũi, tai: Để giảm viêm ở mắt, tai, mũi. Bơm mũi steroid thường dùng điều trị dị ứng.

Thuốc steroid dạng tiêm: Các thuốc steroid dạng tiêm thường được bác sỹ dùng tiêm trực tiếp vào khớp, cột sống hoặc các bộ phận khác trên cơ thể. Chúng có tác dụng giảm đau, chống viêm…

Dạng thuốc steroid khác thường dùng trong bệnh viện như truyền tĩnh mạch, thuốc steroid đi qua một ống nhỏ dài vào tĩnh mạch.

Một số lưu ý khi sử dụng kháng viêm steroid

Nếu bạn dùng thuốc steroid trong một thời gian dài, thì khám và làm các xét nghiệm định kỳ là vô cùng quan trọng. Bác sỹ và điều dưỡng sẽ kiểm tra các tác dụng phụ và điều trị nếu có.

Bạn cần nhớ là luôn luôn dùng thuốc steroid đúng cách theo hướng dẫn của bác sỹ hoặc điều dưỡng. Điều này giúp thuốc phát huy tối đa tác dụng và giảm các tác dụng phụ. Chẳng hạn, nếu bác sỹ kê đơn kèm steroid, chỉ sử dụng theo cách trong đơn thuốc. Hay khi bạn dùng thuốc steroid dạng hít, đảm bảo lượng steroid được hít vào chính xác. Dù bạn không cảm thấy thuốc có tác dụng, luôn phải nhớ sử dụng theo đơn thuốc. Đối với bất kỳ loại thuốc steroid, hãy hỏi bác sỹ cách dùng và đảm bảo là bạn đã hiểu trước khi dùng. Nếu bạn uống thuốc nhiều hơn 3 tuần, thì sẽ giảm khả năng tự sản xuất corticoid của cơ thể.


Bài viết liên quan

  • Trẻ bị suy dinh dưỡng . Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng
  • 235 lượt xem

    Viết bởi: admin

    Ngày: 01/22/2019

  • Theo kết quả khảo sát của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2014, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam trong ba thập kỷ qua đã được cải thiện đáng kể. Theo đó, tính từ năm 1985 đến năm 2014, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân […]

  • Vai Trò Của DHA Tới Phát Triển Não Bộ
  • 364 lượt xem

    Viết bởi: admin

    Ngày: 08/16/2018

  • DHA là dưỡng chất rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể trẻ em nói chung và não bộ của trẻ em nói riêng . Bài viết của suatot.com.vn xin gửi tới bạn đọc những kiến thức và thông tin hữu ích về DHA . DHA là tên viết tắt của Docosahexaenoic acid, […]

  • Tác Dụng Của Sữa Non Với Hệ Miễn Dịch Của Trẻ Sơ Sinh
  • 285 lượt xem

    Viết bởi: admin

    Ngày: 08/15/2018

  • Sữa non (clostrum) là sữa đầu tiên được  cơ thể người tiết ra sau khi diễn ra sau quá trình sinh con  . Sau khi sinh thì cơ thể của người mẹ có tiết ra sữa non để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và bổ xung những dưỡng chất cần thiết cho sự thích nghi […]